Bài đăng

Hình ảnh
Nghiên cứu nhiệt động học của phản ứng epoxy hóa dầu đậu nành sử dụng hệ xúc tác muối wonfram

Đã nghiên cứu động học của phản ứng epoxy hóa dầu đậu nành sử dụng xúc tác trên cơ sở muối wonfram. Quá trình epoxy hóa đã đạt 91% chuyển hóa nối đôi, 87,66% hiệu suất epoxy hóa và hệ xúc tác có độ chọn lọc 0,96. Sản phẩn nhận được sau 1 giờ phản ứng ở 60oC có hàm lượng nhóm oxiran đạt 6,68%. Hằng số tốc độ của phản ứng (k) thực hiện tại các nhiệt độ nằm trong khoảng 0,45 ÷ 1,16×10-2 L.mol-1.s-1 và năng lượng hoạt hóa của phản ứng là 44,26 KJ.mol-1. Các thông số nhiệt động học của các phản ứng epoxy hóa như entanpy (∆H), entropy (∆S) và năng lượng hoạt hóa tự do (∆F) cũng đã được xác định. Cả entanpy và năng lượng hoạt hóa tự do đều dương nên 60oC là nhiệt độ phù hợp cho quá trình epoxy hóa. Sự thay đổi cấu trúc của dầu đậu nành trong quá trình epoxy hóa được nghiên cứu thông qua phổ cộng hưởng từ hạt nhân của dầu đậu nành và dầu đậu nành epoxy hóa...

Chi tiết bài viết mời các bạn…
Hình ảnh
Đa tử trà lá nhỏ (Polyspora microphylla Luong, Nguyen et Truong) một loài mới thuộc họ Chè (Theaceae) ở Việt Nam

Authors: Lương, Văn Dũng
Nguyễn, Thị Liễu
Trương, Quang Cường
Nguyễn, Trung Thành

Đa tử trà lá nhỏ (Polyspora microphylla Luong, Nguyen et Truong) là loài mới thuộc họ Chè (Theaceae). Đặc điểm cơ bản của loài là cây gỗ nhỡ. Lá hình bầu dục rất hẹp đến hình giáo ngược, dài 4-7,5 cm, rộng 1,3-2 cm; đầu lá tù, lõm ở giữa. Hoa 1-3 ở đầu cành, đường kính 2,5-3,5 cm, gần như không cuống. Lá bắc nhỏ 2-3, hình gần tròn, sớm rụng, cao 3-4 mm, rộng 3-4,5 mm, mặt ngoài có lông. Lá đài 5, hình gần tròn, cao 4-4,5 mm, rộng 4,5-5 mm, mặt ngoài có lông. Cánh hoa 5, hình trứng ngược, màu vàng nhạt, cao 1-2,2 cm, rộng 0,8-1,2 cm, mặt ngoài có lông. Bầu hình trứng, 5 ô, cao 3 mm, rộng 2,5 mm, có lông; vòi nhụy liền, dài 3-4mm, có lông ở gốc. Nhị nhiều, 3 vòng; chỉ nhị vàng, dài 4-5 mm, không lông. Quả hình bầu dục, rộng 8-9 mm, cao 1,6-2cm, trụ giữa dài 1,3-1,5 cm; quả 5 ô, mở 5 mản…
Hình ảnh
Vật liệu xúc tác oxy hóa và công nghệ Aluwat xử lý nước ngầm nhiễm phèn

Authors: Nguyễn, Thạc Sửu
Nguyễn, Văn Dũng
Nguyễn, Đình Thành
Hoàng, Hải Phong
Nguyễn, Nghĩa Long

Trong nước ngầm thường chứa các hợp chất của sắt ở dạng hoà tan. Việc loại sắt được thực hiện bởi cơ chế chuyển các ion Fe+2hoà tan thành các ion Fe+3kết tủa dưới dạng hydroxyt và keo tụ. Trong thành phần hạt keo mới hình thành có các ion Fe+3và các ion khác của các muối hoà tan trong nước. Do đó, sau xửlý, ngoài sắt ra, hàm lượng các muối tan khác cũng giảm đi đáng kể. Vật liệu xúc tác và công nghệ Aluwat tạo môi trường, điều kiện thích hợp và thuận lợi cho quá trình xử lý nước ngầm nhiễm phèn với hiệu quả cao. Công nghệAluwat đã được thực hiện với công suất từhàng chục đến hàng ngàn m3/ngày-đêm...

Chi tiết bài viết mời các bạn tham khảo tại đường link:

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/61470


Hình ảnh
Biến tính titan dioxit bằng flo nhằm ứng dụng phân hủy các chất hữu cơ trong vùng ánh sáng khả kiến

Authors: Nguyễn, Thị Diệu Cẩm
Lê, Thu Hà
Nguyễn, Tấn Lâm
Nguyễn, Văn Nội

Titan đioxit biến tính được điều chếtừquặng inmenit Bình Định sửdụng tác nhân biến tính là kali florua. Vật liệu TiO 2biến tính bởi flo được điều chếtrong điều kiện: nồng độdung dịch NH3dùng đểthủy phân K 2 TiF6 bằng 3,5 M, nồng độdung dịch KF biến tính là 1 M và nung kết tủa Ti(OH)4 ởnhiệt độ550ºC, vật liệu thu được có kích thước hạt trung bình khoảng 20 nm, chỉ tồn tại pha anatas và xuất hiện cực đại hấp thụ ở bước sóng dài hơn vật liệu TiO2, mở rộng về vùng ánh sáng khả kiến. Kết quả thí nghiệm chỉ ra rằng, độ chuyển hóa xanh metylen trên vật liệu titan đioxit pha tạp flo dưới bức xạ đèn sợi đốt và ánh sáng mặt trời cao hơn so với titan đioxit...

Chi tiết bài viết mời các bạn tham khảo tại đường link:

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/61443

Hình ảnh
Đánh giá sơ bộ sự phát thải pentaclobenzen từ một số lò đốt rác thải sinh hoạt và lò đốt công nghiệp ở khu vực phía Bắc Việt Nam

Authors: Nguyễn, Thị Huệ
Céline, Leynarie
Nguyễn, Hoàng Tùng

Pentachlorobenzene (PeCB) được hình thành chủ yếu từ quá trình đốt cháy không hoàn toàn. Trong bài báo này, nồng độ PeCB trong tro và xỉ thải của một số lò đốt rác thải sinh hoạt và lò đốt của các hoạt động công nghiệp tại bốn tỉnh thuộc phía Bắc Việt Nam (Hải Dương, Hà Nội, Bắc Ninh và Thái Nguyên) đã được khảo sát sơ bộ. Nồng độtrong các lò đốt trong khoảng 1,3 - 32,5 ng g–1 đối với tro thải và 1,6 - 39,0 ng g–1 đối với xỉ thải. Hệ số phát thải của mẫu tro thải trong khoảng 0,08 - 124 µg/tấn và xỉthải thải từ0,1 - 156 µg/tấn. Hệ số phát thải trung bình của tro thải (54,6 µg/tấn) lớn hơn hệsốphát trung bình của xỉ thải (29,4 µg/tấn). Ngoài ra, các lò đốt rác thải có hệ số phát thải PeCB lớn hơn các lò đốt công nghiệp trung bình khoảng 40 lần đối với tro thải và khoảng 50 lần đối …
Hình ảnh
Sở hữu nước ngoài và rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Authors: Võ, Xuân Vinh
Mai, Xuân Đức

Bài viết nghiên cứu ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giai đoạn 2009-2015. Bài viết sử dụng các phương pháp hồi quy cho dữ liệu bảng với mẫu dữ liệu bao gồm 35 NHTM Việt Nam. Kết quả cho thấy, sở hữu nước ngoài càng cao thì rủi ro thanh khoản của NHTM càng thấp và ngược lại. Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản năm trước có quan hệ cùng chiều với rủi ro thanh khoản của NHTM trong năm hiện tại. Kết quả của nghiên cứu có hàm ý quan trọng trong việc cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm chứng minh vai trò của cổ đông nước ngoài trong việc quản trị rủi ro thanh khoản và các hoạt động khác ở các NHTM Việt Nam...

Chi tiết bài viết mời các bạn tham khảo tại đường link:

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/60713



Hình ảnh
Nghiên cứu biến tính Xenlulozơ trong thân cây đay để làm vật liệu hấp phụ kim loại nặng trong nước

Authors: Vũ, Thị Ngọc Thu

Trong thiên nhiên Xenlulozo là thành phần chính tạo nên lớp màng tế bào thực vật,giúp cho các mô thực vật có độ bền cơ học và tính đàn hồi. Ngoài ra, xenlulozơ còn được coi là một trong nhưng loại sợi ưa chuộng trong công nghiệp thời trang – dệt may. Sợi bông hay coton là loại sợi thân thiện, được sử dụng như là loại sợi an toàn nhất, không gây kích ứng da, thâm hút mồ hôi rất tốt.
Xenlulozơ là polime thiên nhiên, màu trắng, không mùi. Xenlulozơ không tan trong nước và các chất hữu cơ như ete, rượu, benzen… Nhưng tan trong nước Svayde (dung dịch Cu(OH)2/NH3)
Ngoài việc được sử dụng là sợi dệt, xenlulozo được ứng dụng trong sản xuất các loại tơ sợi nhân tạo...

Chi tiết bài viết mời các bạn tham khảo tại:

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/33294